15.2.09

Bảng chiều cao và cân nặng chuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi

Theo ông Lê Danh Tuyên, chuyên gia Viện Dinh dưỡng, chuẩn tăng trưởng mới có yêu cầu cao hơn về chiều cao trẻ em, nhất là với những cháu ngoài 2 tuổi. Chẳng hạn, trẻ tròn 2 tuổi có chiều cao trung bình là gần 88 cm với nam và hơn 87,5 với nữ, cao hơn 2 cm so với tiêu chuẩn cũ.

Như vậy, khi áp dụng bảng này vào Việt Nam từ năm 2008, nước ta sẽ có nhiều trẻ thuộc diện thấp còi hơn, nhưng nhiều bậc phụ huynh sẽ yên tâm hơn về cân nặng của con mình.

Chuẩn tăng trưởng mới được coi là chính xác hơn rất nhiều bởi nó dựa vào cuộc khảo sát trên trẻ em ở nhiều quốc gia ở đủ các châu lục; những em bé này đều được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và được nuôi dưỡng đúng cách trong 5 năm sau đó. Còn tiêu chuẩn cũ chỉ dựa vào khảo sát trẻ em Mỹ và nhiều trẻ trong số đó được nuôi bằng sữa ngoài (thường tăng cân nhiều hơn khiến những trẻ bú sữa mẹ phát triển bình thường có thể bị coi là thiếu cân).

Sau đây là cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ trong một số giai đoạn, theo chuẩn tăng trưởng mới của WHO:

Trẻ gái:
Tuổi Bình thường Suy dinh dưỡng Thừa cân
0 3,2 kg - 49,1 cm 2,4 kg - 45,4 cm 4,2 kg
1 tháng 4,2 kg - 53,7 cm 3, 2 kg - 49,8 cm 5,5 kg
3 tháng 5,8 kg - 57,1 cm 4, 5 kg - 55,6 cm 7,5 kg
6 tháng 7,3 kg - 65,7 cm 5,7 kg - 61,2 cm 9,3 kg
12 tháng 8,9 kg - 74 cm 7 kg - 68,9 cm 11,5 kg
18 tháng 10,2 kg - 80,7 cm 8,1 kg - 74,9 cm 13,2 kg
2 tuổi 11,5 kg - 86,4 cm 9 kg - 80 cm 14,8 kg
3 tuổi 13,9 kg - 95,1 cm 10,8 kg - 87,4 cm 18,1 kg
4 tuổi 16,1 kg - 102,7 cm 12,3 kg - 94,1 cm 21,5 kg
5 tuổi 18,2 kg - 109,4 cm 13,7 kg - 99,9 cm 24,9 kg

Trẻ trai:

Tuổi Trung bình Suy dinh dưỡng Thừa cân
0 3,3 kg- 49,9 cm 2,4 kg - 46,1 cm 4,4 kg
1 tháng 4,5 kg - 54,7 cm 3,4 kg - 50,8 cm 5,8 kg
3 tháng 6,4 kg - 58,4 cm 5 kg -57,3 cm 8 kg
6 tháng 7,9 kg - 67,6 cm 6,4 kg - 63,3 cm 9,8 kg
12 tháng 9,6 kg - 75,7 cm 7,7 kg -71,0 cm 12 kg
18 tháng 10,9 kg - 82,3 cm 8,8 kg -76,9 cm 13,7 kg
2 tuổi 12,2 kg - 87,8 cm 9,7 kg - 81,7 cm 15,3 kg
3 tuổi 14,3 kg - 96,1 cm 11,3 kg - 88,7 cm 18,3 kg
4 tuổi 16,3 kg - 103,3 cm 12,7 kg - 94,9 cm 21,2 kg
5 tuổi 18,3 kg - 110 cm 14,1 kg -100,7 cm 24,2 kg

12.2.09

Bố cục

Bố cục (composition) là sắp xếp, kết hợp, chọn lựa, tổ chức lại, bổ xung...đường nét, hình thể cấu tạo để nói lên một ý chính. Bố cục là phần vụ then chốt trong ảnh nghệ thuật hay ít nữa, một ảnh có ý nghĩa hơn, dễ xem đẹp mắt hơn.
Cho nên bạn đến đường nét, hình dáng, thể tích, màu sắc, ánh sáng ,bóng tối...của cảnh hoặc vật mình muốn chụp ảnh trước khi bấm máy. Thử duyệt xem những ý nghĩa của phần vừa đề cập được chấp nhận chung trong giới làm nghệ thuật tạo hình.
1 - Đường nét:
Ta dùng đường nét để hướng mắt người xem vào chủ đề.
- Đường thẳng đứng (đường dọc - vertical) cho ta ý cương nghị, trang nghiêm, thẳng thắn, cứng rắn, vững chắc...
- Đường thẳng nằm (đường ngang - horizontal) cho ta ý rộng rãi , bình thản , thanh tịnh...
- Đường cong (curve) cho ta ý mềm mại, gợi cảm, duyên dáng mỹ miều, uyển chuyển, trôi chảy...
- Đường xiên (chéo góc - diagonal) cho ta ý nghĩa sống động, đấu tranh...
- Đường thẳng hội tụ cho ta cảm thấy chiều sâu...
- Đường cong hội tụ (xoáy trôn ốc) cho ta cảm giác cuốn hút mãnh liệt ví dụ con trốt (tornado), nước xoáy, trăn quấn...
- Đường toả ra cho ta ý phát xuất , bung rộng...
- Đưòng lập lại cho ta ý nhịp nhàng, thêm lên, hằng hà sa số...
- Đường ngang, dọc, chéo góc chung nhau cho ta ý nghĩa hỗn loạn, vô trật tự, thiếu tổ chức...
2 - Hình thể:
Theo hình kỷ hà. Những đường thẳng, đường cong góp lại thành hình kỷ hà, những hình này có ý nghĩa quan trọng giúp người chụp ảnh tạo tác phẩm của mình .
- Hình tam giác: vững vàng...
- Hình vuông, chữ nhật: chắc chắn, cứng rắn, nặng nề...
- Hình tròn: di động...
3 - Ánh sáng và bóng đổ:
Tạo hình thể thành khối lượng. Bóng đổ giúp hình thể thêm chiều thứ ba, chuyển một mặt phẳng thành khối có thể tích, có chiều sâu, có xa gần. Ánh sáng và bóng đổ nguyên nó đã là đường nét cho bố cục. Tập quan sát và diễn nghĩa các bóng đổ mình gặp hằng ngày, thử áp dụng vào bố cục tưởng tượng rồi chuyển qua chụp hình thật .
4 - Luật một phần ba:
Nên đặt chủ đề, nhất là chủ điểm vào điểm quan trọng của bố cục nằm ở 1/3 của chiều cao và chiều dài của ảnh, tránh đặt vào giữa ảnh. Đường chân trời cũng theo nguyên tắc này.
- Muốn nói trời rộng mênh mông, đặt đường chân trời vào 1/3 dưới.
- Muốn nói đất hoặc nước mênh mông, đặt đường chân trời ở 1/3 trên.
- Muốn tăng sự mênh mông bát ngát hơn, có thể đặt đường chân trời cao hơn hoặc thấp hơn 1/3 khung ảnh.
- Muốn nói lên sự cao vút, nên dùng bố cục đứng. Muốn nói lên sự rộng bao la bát ngát nên dùng bố cục nằm.
- Nên cho khoảng trống nhiều hơn ở phía trước của hướng người hay vật di chuyển tới. Điều này cũng áp dụng cho hướng nhìn của người nếu chụp ảnh bán thân hay chân dung nhìn ngang của người.
- Tuy nhiên nếu muốn nói khoé nhìn bị bế tắt hay đến đích sau khoảng đường dài đã qua, có thể áp dụng ngược lại điều ghi ở trên.
- Ở trên chúng ta có đề cập đến điểm mạnh để đặt chủ đề là 1/3 của khung ảnh. Nhưng muốn nói lên sự tôn nghiêm tối thượng (ảnh Chúa, tượng Phật, Tổng thống nói chuyện với dân, mục sư đang giảng đạo hay hoà thượng đang thuyết pháp...) chủ đề cần đặt vào giữa ảnh.
- Nếu lỡ sơ xuất hoặc hoàn cảnh không cho phép nguời chụp ảnh bố cục theo ý muốn ta có thể cứu vớt ảnh bằng cách cắt xén lại ảnh đã chụp bằng bố cục lần thứ hai.
- Nếu chụp ảnh trừu tượng hoặc ảnh chỉ dùng màu sắc mà không cần hình thể , ta cần chú ý đến màu chính và màu phụ, sự tương phản của màu sắc, cũng như kích thước của từng mảng màu để định chủ đề và đưa vào chủ điểm cho bố cục vững vàng.
(Sưu tầm)

Ánh sáng

Trong bộ môn nhiếp ảnh, ánh sáng giúp chúng ta ghi nhận cảnh vật chung quanh. Nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu và học hỏi cách dùng ánh sáng thì sự diễn đạt tư tưởng của chúng ta qua cảnh vật sẽ thành công hơn. Khi chụp hình, phim không ghi nhận chủ đề, mà chỉ ghi nhận ánh sáng phản chiếu từ chủ đề. Ánh sáng cho biết màu sắc, chi tiết, hình thể, vân thể của chủ đề. Bởi vậy không có ánh sáng thì không có nhiếp ảnh.
1 - Nguồn sáng:
- Thiên nhiên (mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao...): chúng ta không thể điều khiển ánh sáng thiên nhiên nhưng có thể thay đổi bằng cách chọn những thời gian và không gian khác nhau (sáng, trưa, chiều, tối, dưới đám mây, trong sương mù, dưới tàng cây ...)
- Nhân tạo (đèn cầy, đèn dầu, đèn bóng, đèn flash...): chúng ta có thể điều khiển và thay đổi ánh sáng nhân tạo một cách dễ dàng.
Nhiếp ảnh gia có thể dùng 2 nguồn sáng cùng lúc. Ví dụ dùng đèn flash để phụ thêm ánh sáng thiên nhiên.
2 - Phân loại ánh sáng:
- Ánh sáng thẳng (direct light): đi thẳng từ nguồn sáng đến chủ đề, rất mạnh, bóng đổ sắc cạnh.
- Ánh sáng phân tán (diffuse light): ánh sáng đi qua đám mây, màn sương, lớp vải...và phân tán đi nhiều hướng. Ánh sáng này dịu, bóng đổ không còn sắc nét.
- Ánh sáng phản chiếu (bounce light): ánh sáng chiếu vào mặt phẳng, rồi phản chiếu đến chủ đề. Tùy sự cấu tạo của mặt phẳng, ánh sáng có thể mạnh, yếu hoặc ửng lên chủ đề những màu sắc từ mặt phản chiếu. Ví dụ: màu vàng kim loại của tấm phản chiếu (reflector) làm màu da mặt người mẫu ấm áp hơn.
3 - Hướng đi của ánh sáng:
- Ánh sáng trực diện (front lighting): ánh sáng đi từ sau lưng nhiếp ảnh gia, chiếu thẳng vào chủ đề. Ánh sáng này so rõ các chi tiết, còn gọi là ánh sáng phẳng (flat) vì không có bóng đổ.
- Ánh sáng tạt ngang (side lighting): ánh sáng ngang tạo hình tranh tối tranh sáng, nhờ đó chúng ta có thể trông thấy độ sâu, hình hể, vân thể và bóng đổ. Nói tóm lại, ánh sáng tạo ra không gian ba chiều.
- Ánh sáng ngược (back lighting): ánh sáng chiếu từ sau lưng chủ đề đến ống kính. Lối xử dụng ánh sáng này cần nhiều kinh nghiệm về khẩu độ và tốc độ, hình chụp đúng cách thường rất đẹp, nếu chủ đề là chân dung thì ánh sáng trên mặt rất dịu, tóc có viền sáng, mắt không hấp him, mặt mày không nhăn nhó như lúc được chụp bằng ánh sáng phẳng. Lối chụp hình này rất được nhiều nhiếp ảnh gia lão thành xử dụng. Ánh sáng ngược còn được xử dụng để tạo nên những bóng đen mà hậu cảnh là bình minh hoặc hoàng hôn (silhouette).
- Ánh sáng chếch: ánh sáng chiếu trên chủ đề với góc xiên 30-60 độ. Chụp ảnh chân dung ngoài trời hoặc trong studio, nguồn sáng thường được xếp đặt cỡ 45 độ.
- Ánh sáng tổng hợp: ta có thể phối hợp nhiều nguồn sáng khác nhau để sáng tạo những hình ảnh như ý muốn khi chụp ảnh chân dung ngoài trời hoặc trong studio.
Ngoài những ánh sáng căn bản trên, ta có thể dùng ánh sáng ngược từ dưới lên hoặc từ trên xuống để diễn đạt những sắc thái đặc biệt của chủ đề.
4 - Sự tương phản của ánh sáng:
Sự tương phản (contrast) là sự khác biệt giữa 2 phần sáng và tối của chủ đề.
- Tương phản cao: khi ánh sáng có cường độ mạnh, sức tương phản nhiều làm đường biên giữa sáng và tối rõ ràng, sắc nét.
- Tương phản thấp: khi ánh sáng có cường độ yếu, sức tương phản ít làm sự khác biệt giữa sáng và tối không xa cách nhiều, đường biên giữa tối và sáng không rõ ràng sắc nét.
5 - Màu sắc của ánh sáng:
Màu sắc ánh sáng thay đổi từng giờ trong ngày và thay đổi theo tháng hoặc theo mùa. Màu sắc của ánh sáng được đo bằng độ Kelvin.
Lúc rạng đông hoặc hoàng hôn, ánh sáng có màu vàng, da cam, sắc độ từ 3000 đến 4000 độ Kelvin. Những hình chân dung chụp vào buổi sáng sớm hoặc xế trưa thường có màu vàng cam trên da mặt.
Vào ban trưa , ánh sáng thay đổi thành màu trắng (white light). Màu sắc trắng là một tổng hợp toàn hảo của các màu sắc trong cầu vòng (rainbow). Sắc độ từ 5000-6000 độ Kelvin.
Trong những ngày ánh sáng chói chang, sắc độ có thể lên đến 7000-8000 độ Kelvin.
Ta có thể thay đổi hoặc loại bỏ màu sắc bằng cách dùng kính lọc , loại phim đặc biệt hoặc kỹ thuật phòng tối.
6 - Ý Nghĩa của ánh sáng:
Nếu ta biét cách sử dụng ánh sáng và màu sắc một cách đúng mức ta sẽ truyền thông được nhiều tư tưởng qua tác phẩm nhiếp ảnh.
- Ánh sáng âm u, đen nhiều hơn trắng diễn tả được nỗi huyền bí của cảnh vật, sự bi ai trong tâm tư chủ đề, những bí mật sâu xa trong lòng người...
- Trắng nhiều hơn đen diễn tả được sự ngây thơ trong trắng như khuôn mặt đứa bé, tà áo học trò...
- Mây trắng, trời xanh, hoa đỏ vàng cho thấy sự sinh động của đời sống.
Ngoài ra những nguồn sáng tạo ra trong tác phẩm còn là một cách hướng dẫn khéo léo để đưa ánh mắt người xem tiến về một chủ đề quan trọng trong tác phẩm.
(Sưu tầm)

Phân loại ánh sáng , âm thanh

Ánh sáng (light). 1. Dải dao động có bước sóng từ 3800 đến 7000 A.U (từ 740nm đến 400 nm). “Ánh sáng” được hiểu mở rộng ra bên ngoài vùng giới hạn mà mắt người có thể thấy được: bên ngoài vùng đỏ (hồng ngoại) và bên ngoài vùng tím (tử ngoại). 2. Ánh sáng từ các nguồn sáng tự nhiên (mặt trời, lửa) và ánh sáng nhân tạo (các loại đèn chiếu) tạo hiệu ứng ánh sáng cho cảnh phim. 3. Ánh sáng là cách gọi tắt của công việc chiếu sáng (lighting), bộ phận ánh sáng (lighting group) do trưởng bộ phận ánh sáng (lighting director) chịu trách nhiệm điều phối theo ý tưởng tạo hình của nhà quay phim (cường độ, góc, hướng, màu sắc, nhiệt độ màu, phin tơ, hiệu ứng v.v …). Ánh sáng từ các nguồn sáng chiếu vào chủ đề bức xạ qua hệ thống thấu kính rọi vào lớp nhũ tương cảm quang trên mặt phim, tạo ra quá trình biến đổi quang-hoá, lưu lại hình ảnh tiềm ẩn trên lớp nhũ tương phim. Ánh sáng là một thành phần kỹ thuật căn bản trong quá trình sản xuất một bộ phim. Cảnh quay “ngoại/ngày” thường tận dụng ánh sáng thiên nhiên hoặc kết hợp ánh sáng nhân tạo nếu cần. Cảnh quay nội dù ngày hay đêm được chiếu sáng bằng đèn. Bố cục ánh sáng truyền thống thường có 4 cây đèn: đèn chính (key light) là nguồn sáng mạnh, nhưng đều và lỳ chiếu vào chủ đề ở phía trước; đèn khử bóng (fill light) có chức năng như đèn chính, kiểm soát sự tương phản và tỷ lệ ánh sáng chiếu vào chủ đề ở phía trước nhưng khác hướng với đèn chính; đèn hậu (back light) chiếu trực diện ở phía sau chủ đề và camera, nhằm tách nó ra khỏi phông và tạo ven cho chủ đề; đèn phông (back ground light) làm sáng hậu cảnh và tách chủ đề ra khỏi phông. Ngoài ra, còn có những nguồn ánh sáng phụ, công suất nhỏ hơn để tạo hiệu ứng: đèn ven (rimlight) chiếu thẳng vào phía sau chủ đề; đèn kích (kicker light) cũng có chức năng như đèn ven và đèn hậu nhưng ở góc thấp hơn, đối diện với camera và đèn chính chiếu chếch một bên phía sau chủ đề để tạo ven một phía mạnh hơn; đèn tạt ngang (side light) chiếu vào hai bên chủ đề; đèn nhấn (accent light) để làm nổi bật một khu vực trong bối cảnh; đèn mắt (eye light) để khử bóng ở hốc mắt nhân vật; đèn ven tóc (top light) để tạo làm nổi mái tóc v.v… Trên nền tảng ánh sáng sân khấu, ánh sáng điện ảnh đã trải qua một quá trình phát triển phức tạp để có được kỹ thuật và hiệu ứng phong phú như ngày nay.

Ánh sáng bóng (silhouette lighting). Hiệu ứng tạo ra hình ảnh nhân vật như một bóng đen sắc nét nổi bật trên nền phông trắng bởi ánh sáng chỉ được chiếu vào hậu cảnh mà không chiếu vào chủ đề. Phương pháp này ngược với ánh sáng phông đen (cameo lighting).

Ánh sáng phông đen (cameo lighting). Sự tập trung các nguồn sáng mạnh chỉ chiếu vào tiền cảnh (foreground) mà giữ cho hậu cảnh đen tối. Thủ pháp này làm cho chủ đề (người, vật, vật thể) sáng rực, nổi bật trên nền phông đen, nhằm thu hút thị giác người xem, ngược với ánh sáng bóng (silhouette lighting) và hoàn toàn không sử dụng ánh sáng môi trường (ambiancelight).

Ánh sáng chung (incident light). Ánh sáng từ tất cả các nguồn sáng trong bối cảnh, trong đó có chủ đề. Chuyên viên ánh sáng sẽ đo nguồn sáng bằng pô sơ mét (incident light meter) để điều tiết chúng.

Ánh sáng hữu ích (available light). Ánh sáng thiên nhiên hoặc các nguồn sáng có sẵn ở điểm quay (location) được dùng khi ghi hình mà không cần sử dụng thêm kỹ thuật chiếu sáng. Với ánh sáng này, tính hiện thực của cảnh phim sẽ cao hơn việc sử dụng ánh sáng nhân tạo.

Ánh sáng chia-rô-cu-rô (chiaro scuro). Thuật ngữ kết hợp hai từ gốc Ý: “sáng” và “tối”, gọi phương pháp chiếu sáng đa chiều tạo kịch tính và làm nổi bật chủ đề. Phương pháp này tạo ra những mảng sáng tối, ven hoặc mờ ảo tranh tối tranh sáng làm tăng kịch tính, góc cạnh về ngoại hình của chủ đề bằng cách giảm cường độ nguồn sáng chính (key light), tăng cường độ của các nguồn sáng hiệu ứng ( đèn hậu, đèn ven, đèn tóc v.v …); nghịch nghĩa với “ánh sáng lỳ” (flat light).

Ánh sáng huỳnh quang (fluoresent light). Ánh sáng từ đèn chứa khí lưu huỳnh phát sáng khi khi dây tóc bị nung đến nhiệt độ tới hạn, có độ màu từ 4000 K đễn 4800 K (màu trắng lạnh).

Ánh sáng gián tiếp (indirect light). Ánh sáng hắt hay ánh sáng phản xạ từ những tấm phản quang, gương, hoặc các vật thể có bề mặt màu trắng, màu sáng chiếu vào chủ đề.

Ánh sáng khuếch tán (diffused light). Ánh sáng bị giảm cường độ, thay đổi nhiệt độ màu khi đi qua môi trường không khí, khói nước hoặc bị chắn bằng những dụng cụ: giấy bóng mờ, màn trắng, tấm lụa, phin tơ các loại, lưới kim loại v.v … Do ánh sáng khuyếch tán thường dịu hơn nên nó làm cho hình ảnh trong cảnh tự nhiên hơn, bớt bóng đổ và bớt tương phản.

Ánh sáng lỳ (flat light). Ánh sáng được chiếu từ một hướng duy nhất vào chủ đề (đèn chính, đèn khử bóng) khiến chủ đề sáng đều, bị “dính” vào phông, không có sự tương phản. Ánh sáng lỳ không làm nổi bật chủ đề, tẻ nhạt, thiếu kịch tính.

Ánh sáng môi trường (ambiancelight, background light, room light). Ánh sáng trong không gian một cảnh (thường là ánh sáng dịu) được coi là ánh sáng trong không gian của bối cảnh, không chỉ chiếu vào chủ đề.

Ánh sáng nhấn (accent light). Ánh sáng có cường độ cao được chiếu tập trung vào chủ đề để làm nổi bật nó. Nguồn sáng nhấn là loại đèn gì, công suất, nhiệt độ màu bao nhiêu tuỳ theo ý định tạo hình của nhà quay phim.

Ánh sáng pha (hard light). Ánh sáng hội tụ cực mạnh chiếu một góc hẹp trực diện vào chủ đề. Nguồ sáng này làm cho hình ảnh chủ đề sáng rực, lỳ, tạo bóng đổ.

Ánh sáng tăng cường (booster light). Ánh sáng nhân tạo được rọi thêm để làm giả ánh sáng ban ngày (day light) trong trường hợp quay cảnh ngoại (exterior scene) hoặc bất cứ khu vực nào trong bối cảnh cần bổ sung ánh sáng.

Ánh sáng trời (daylight). Ánh nắng mặt trời hoặc ánh sáng ban ngày trời không mưa trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 15 giờ, nhiệt độ màu khoảng 6500 K

Âm học (acoutics). 1. Khoa học nghiên cứu về âm thanh ứng dụng tổng quát vào kỹ thuật thiết kế phòng thu âm (audio studio), thính phòng (auditorium), nhà hát v.v … 2. Phương pháp ghi âm cơ học của Thomas A Edison và một số nhà khoa học khác. Ngày nay, âm học được hiểu như một tính từ mô tả thuộc tính của những dụng cụ âm thanh phi điện tử.

Âm nhạc đã so lọc (music track). Âm nhạc đã được ghi hoàn tất thành một đường tiếng riêng được chọn hoà âm với đường thoại và đường âm thanh hậu kỳ để tạo thành một đường tiếng hỗn hợp (composite sound).

Âm nhạc hậu kỳ (background music). Nhạc, ca khúc được hòa âm ở hậu kỳ thay vì được ghi đồng bộ khi quay. Âm nhạc hậu kỳ được soạn riêng hoặc trích từ các sound track (allbum, băng, đĩa) đã có sẵn.

Âm thanh (audio). 1. Phần tiếng (phân biệt với phần hình ảnh) gồm: lời thoại, ca nhạc, tiếng động (thật, giả) v.v … đồng bộ với phần hình ảnh của bộ phim. 2. Bộ phận âm thanh của một bộ phim được ghi trên phụ đề (đầu hoặc cuối) phim.

Âm thanh quang học (optical sound). Âm thanh được ghi và phát nhờ sự biến đổi quang điện. Đường tiếng (soundtrack) được ghi dưới dạng âm phổ (musical score) trên biên phim nhựa. Projector đọc đường tiếng bằng cách chiếu vào nó một tia sáng, lấy tia phản xạ mang thông tin của âm phổ rọi vào một tế bào quang điện. Từ đó, áng sáng được biến đổi thành tín hiệu điện. Tín hiệu này được khuếch đại được chuyển ra loa.

Áo bọc máy (barney). Tấm nỉ dày bọc thân camera để làm giảm tiếng ồn do máy chạy gây ra. Tuy vậy, việc dùng áo bọc máy cũng chỉ có tác dụng với những camera còn mới. Nó sẽ không có hiệu quả đối với những máy quay phim đã cũ, cảnh hưởng đến chất lượng thu âm đồng bộ. Thuật ngữ “barney” có nghĩa gốc là “mền đắp ngựa”.

Theo www.dtvt.org

29.12.08

Giới thiệu giải pháp thiết kế mặt đứng hai lớp


Mặt đứng hai lớp là xu hướng kiến trúc được hình thành ở châu Âu bởi: - nhu cầu thẩm mỹ của tất cả những façade mặt đứng bằng kính trong suốt. - ứng dụng sự cải tiến hệ thống cửa sổ trong các điều kiện khí hậu. - cải tiến vấn đề cách âm trong những vùng có cường độ âm thanh cao - tiết kiệm năng lượng trong quá trình sử dụng

Mặc dù vậy, ý tưởng sử dụng mặt đứng hai lớp không phải là mới. Trước đây, đã có những nhà thầu, kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng ứng dụng sử dụng phương pháp này nhưng dường như việc này chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, hầu như nó vẫn nằm trong những đề tài khoa học… 

Trước đây, người ta chỉ quan tâm đến giải pháp thiết kế mặt đứng 2 lớp ở những điểm cụ thể: - Hình thức kiến trúc - Điều hoà khí hậu - Năng lượng - Và những vấn đề như giá thành, cháy nổ, bảo dưỡng mặt đứng.

Định nghĩa và khái niệm

Một façade mặt đứng hai lớp bao gồm hai lớp kính mà không khí có thể lưu thông được trong những khoảng trống đó. Hệ thống thông gió trong những khoang này có thể là tự nhiên, bằng quạt hay những kỹ thuật khác. Mỗi phần của khoang trống có thể rất khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện thời tiết, địa phương, mục đích sử dụng, thời gian sử dụng trong ngày… và chiến lược HVAC. Lớp kính sử dụng có thể 1 lớp, 2 lớp với khoảng cách từ 20cm đến 2m. Trong nhiều trường hợp, để bảo vệ và làm ấm công trình (chống lại thời tiết giá lạnh của châu Âu) người ta dùng hệ thống tấm chớp cửa sổ ngay bên trong những khoang trống này…



Ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời đối với façade mặt đứng hai lớp là không có sự khác biệt so với façade mặt đứng một lớp. Tuy nhiên lớp mặt đứng thêm này có tác dụng như một vùng đệm làm giảm khả năng mất nhiệt và cho phép hấp thụ ánh nắng mặt trời. Trong thời gian có ánh nắng mặt trời, không khí được làm nóng lên làm cho toà nhà được thông gió một cách tự nhiên và được cung cấp bầu khí hậu dễ chịu. Nhưng mặt khác, trong mùa hè cũng nảy sinh vấn đề nhiệt độ quá cao vì façade mặt đứng đã làm hạn chế khả năng thông gió. Việc sử dụng kết cấu, hình dạng façade khác nhau sẽ tạo ra những hệ thống đa dạng để thích ứng với những vùng khí hậu và những địa phương khác nhau. 

Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xây dựng Bỉ (”"Source book for a better understanding of conceptual and operational aspects of active facades”) thì các lớp của façade bao gồm: - Lớp kính lắp bên ngoài: thường thường đó là một lớp kính dày, cứng. Lớp façade bên ngoài này có thể làm hoàn toàn bằng kính. - Lớp kính bên trong: (insulating double glazing unit) một lớp kính bên trong nữa, tạo nên một façade hai lớp mặt kính, có khoảng trống ở giữa. Trong đại đa số trường hợp lớp façade bên trong này không làm hoàn toàn bằng kính. - Không khí được lưu thông giữa hai lớp này. Có thể là không khí hoàn toàn tự nhiên, được cung cấp gió, hoặc thông gió nhờ hệ thống quạt hoặc máy móc. Độ rộng của khoảng thông gió này có thể từ 200 mm đến hơn 2 mét tuỳ thuộc chức năng của lớp façade. - Có thể làm thêm các cửa sổ bên trong để cho văn phòng được thông gió tự nhiên. - Tuỳ thuộc vào chức năng của façade mặt đứng hai lớp và kiểu mặt kính, có thể lắp đặt thêm bộ phận bức xạ nhiệt bên cạnh façade.

 Phân tích về những lợi ích và bất lợi của giải pháp:

CÁC LỢI ÍCH CHÍNH:

- Cách âm tốt: nhiều chuyên gia đã nhận định rằng để có thể cách âm tốt nhất thì sử dụng façade mặt đứng hai lớp là một trong những giải pháp tối ưu.

- Giảm bớt mức độ tiếng ồn bên trong toà nhà văn phòng: Nhờ sử dụng façade mặt đứng hai lớp có thể làm giảm bớt được vấn đề ô nhiễm tiếng ồn gây ra từ bên ngoài và từ các văn phòng bên trong toà nhà. - Cách nhiệt: Trong mùa đông lớp mặt đứng bên ngoài chính là yếu tố làm tăng sự cách nhiệt. Sự giảm tốc độ của luồng không khí lưu thông và nhiệt độ được tăng lên trong khu vực thông giữa hai lớp của façade mặt đứng sẽ làm giảm sự mất nhiệt trên bề mặt của lớp kính và do đó làm giảm sự mất nhiệt của cả khu vực. Còn trong mùa hè luồng không khí nóng bên trong khu vực thông giữa hai lớp của façade mặt đứng sẽ được rút bớt ra nhờ hệ thống quạt gió hoặc nhờ việc thông gió tự nhiên. Vấn đề nhiệt độ tăng quá cao có thể xảy ra trong mùa hè nhưng cũng sẽ được giải quyết nhờ giải pháp sử dụng một lớp ngoài có cửa sổ có thể hoàn toàn mở ra được (a completely openable outer), mặc dù giải pháp này sẽ làm giá xây dựng tăng lên đáng kể.

- Sự thông gió vào ban đêm: trong những ngày hè nóng nực, khoảng không gian bên trong toà nhà có thể bị quá nóng. Giải pháp sử dụng façade mặt đứng hai lớp sẽ tiết kiệm được năng lượng trong việc làm mát văn phòng, nhờ thông gió tự nhiên nhiệt độ của bên trong toà nhà nhờ đó sẽ trở nên thấp hơn vào ban đêm và sáng sớm, đồng thời chất lượng không khí cũng được cải thiện tốt hơn.

- Tiết kiệm năng lượng và giảm bớt ảnh hưởng của môi trường: về nguyên tắc façade mặt đứng hai lớp sẽ tiết kiệm năng lượng nếu được thiết kế và xây dựng đúng cách.

- Hỗ trợ việc bảo vệ các thiết bị chiếu sáng hoặc che nắng: Nếu các thiết bị này được lắp đặt trong khu vực thông giữa hai lớp của façade mặt đứng thì sẽ được bảo vệ tốt hơn do tránh được mưa, gió.

- Giảm bớt ảnh hưởng của gió: façade mặt đứng hai lớp của những toà nhà cao tầng sẽ làm giảm rất nhiều áp lực của gió thổi.

- Trường phái thiết kế kiến trúc rõ ràng, sáng sủa: nhiều tài liệu nghiên cứu đã đề cập đến việc sử dụng façade mặt đứng hai lớp là một kiểu thiết kế kiến trúc sáng sủa, rõ ràng.

- Thông gió tự nhiên: Một trong những lợi ích chính của giải pháp sử dụng hệ thống façade mặt đứng hai lớp là cho phép thông gió một cách tự nhiên (hoặc sử dụng quạt gió). Tuỳ thuộc vào điều kiện khác nhau của khí hậu, mục đích, vị trí và kiểu của toà nhà để xây dựng các giải pháp façade mặt đứng hai lớp khác nhau để có thể cung cấp không khí tươi, tự nhiên cho toà nhà trước và trong giờ làm việc. Việc lựa chọn kiểu cho façade mặt đứng hai lớp sẽ có tầm quan trọng đặc biệt đối với chất lượng không khí và nhiệt độ bên trong toà nhà. Nếu thiết kế đúng cách, sự thông gió tự nhiên sẽ giúp làm giảm tiêu thụ nhiên liệu và tăng sự thuận lợi cho người sử dụng.

- Sự thuận lợi cho người sử dụng toà nhà do nhiệt độ mang lại: Ưu việt hơn so với sử dụng façade mặt đứng một lớp vì nhiệt độ tại khu vực thông giữa hai lớp của façade cao hơn nhiệt độ không khí bên ngoài, và phần mặt đứng bên trong của façade có thể duy trì được mức nhiệt độ gần với nhiệt độ thích hợp cho người sử dụng trong thời điểm mùa hè nhiệt độ cao. Mặt khác trong mùa hè sẽ thấy rất rõ tầm quan trọng đặc biệt của việc thiết kế đúng cách vì nó sẽ làm cho nhiệt độ tại khu vực thông khí giữa hai lớp mặt đứng không bị tăng lên.

- Lối thoát hiểm, thoát hoả hoạn: Khoảng không gian giữa hai lớp của façade mặt đứng hai lớp có thể sử dụng thành lối thoát hiểm khi hoả hoạn xảy ra.


NHỮNG ĐIỂM BẤT LỢI: - Giá thành xây dựng cao hơn so với giải pháp mặt đứng thông thường.

- Chống hoả hoạn: hiện vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng liệu giải pháp sử dụng façade mặt đứng hai lớp sẽ tốt hơn cho việc phòng chống hoả hoạn cho toà nhà hay không.

- Làm giảm diện tích sử dụng: Chiều rộng của khu vực trung gian thông giữa hai lớp của façade có thể giao động từ 20 cm - 2 mét, đó là yếu tổ làm giảm không gian sử dụng của toà nhà. Thông thường chiều rộng này sẽ ảnh hưởng tới phần bên trong toà nhà (khu vực này càng rộng thì càng làm giảm khả năng mất nhiệt do luồng không khí lưu thông gây ra) và đôi khi khu vực này càng rộng thì càng làm tăng sự thuận lợi về nhiệt độ mang lại. Vì vậy việc quyết định chiều rộng giữa hai lớp của façade là rất quan trọng nhằm đạt được mục đích có được một không gian hẹp nhất đủ để tiết kiệm diện tích đồng thời lại tối ưu hoá được những hiệu quả do façade mặt đứng hai lớp mang lại. - Tăng chí phí vận hành và sử dụng toà nhà: do phải tăng chi phí làm sạch, chi phí hoạt động, chi phí bảo vệ, dịch vụ và bảo dưỡng.

- Vấn đề nhiệt độ tăng quá cao: Nếu hệ thống façade mặt đứng hai lớp không được thiết kế đúng thì khu vực trung gian thông giữa hai lớp của façade lại trở thành nơi làm tăng nhiệt độ phần bên trong toà nhà.

- Làm tăng tốc độ lưu thông khí trong khu vực thông giữa hai lớp của façade, nhất là tại những toà nhà cao tầng.

- Tăng tải trọng xây dựng của toà nhà và tăng giá thành xây dựng.

- Ban ngày: hệ thống façade mặt đứng hai lớp cũng tương tự như các mặt façade kính khác (ví dụ façade mặt đứng một lớp), tuy nhiên nó sẽ phần nào làm giảm lượng ánh sáng vào toà nhà.

- Cách âm: vấn đề cách âm giữa các phòng và giữa các tầng có thể xảy ra nếu hệ thống façade mặt đứng hai lớp không được thiết kế và xây dựng đúng cách.


KẾT LUẬN: Hệ thống façade mặt đứng hai lớp trong các toà nhà văn phòng đã được xây dựng chủ yếu tại châu Âu với mục đích tăng cường sự hoà hợp giữa môi trường bên trong đồng thời với việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu. Tuy nhiên một số tài liệu lại cho rằng điểm bất lợi chủ yếu của hệ thống này là tại một số nước nhiều nắng là trong thời điểm mùa hè nắng nóng, nhiệt độ không khí tại khu vực thông giữa hai lớp của façade cao hơn đã gây ra vấn đề toà nhà bị quá nóng. Điều này lại dẫn đến nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng lên để làm mát. Vì vậy, theo một số ý kiến thì façade mặt đứng hai lớp là không hiệu quả về mặt sử dụng năng lượng.

Sự thật là façade mặt đứng hai lớp phụ thuộc rất nhiều vào đìều kiện bên ngoài (nhiệt độ, ánh nắng mặt trời…) vì chúng cho phép những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến khí hậu bên trong toà nhà. Vì vậy hệ thống façade mặt đứng hai lớp phải được thiết kế riêng phù hợp với từng toà nhà tại từng địa phương khác nhau.

Một số thông số bắt buộc phải tính đến trong giai đoạn đầu tiên trước khi thiết kế façade mặt đứng hai lớp là: - Khí hậy (điều kiện ánh nắng, nhiệt độ ngoài trời…) - Vị trí và những sự cản trở đối với toà nhà (vùng khí hậu, điều kiện nắng, không khí, ground reflectance…) - Mục đích sử dụng toà nhà (thời gian sử dụng, công năng…) - Các quy định về xây dựng và thiết kế Những yếu tố bắt buộc phải nghiên cứu khi thiết kế façade mặt đứng hai lớp để tạo nên chất lượng tốt nhất, đảm bảo giảm thiểu nhu cầu sử dụng năng lượng và duy trì được môi trường bên trong toà nhà ở điều kiện tốt bao gồm: - Thiết kế hình dáng kiểu façade/ loại façade - Thiết kế kết cấu của façade - Hình dáng của khu vực thông khí - Việc sử dụng không khí trong khu vực thông khí - kiểu dáng, chiến lược sử dụng - Những nguyên tắc mở của khu vực thông khí, phần mặt đứng bên ngoài và bên trong của façade. - Kiểu của mặt kính, loại che nắng và che ánh sáng. - Lựa chọn vật liệu cho tấm mặt đứng và tấm che sáng. - Vị trí đặt tấm che nắng

Yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng của mặt đứng hai lớp là tìm hiểu về mặt vật lý khu vực khoảng trống giữa hai lớp mặt đứng. Hình dạng của façade, những cửa sổ của façade sẽ ảnh hưởng đến luồng không khí và qua đó ảnh hưởng đến nhiệt độ tại những độ cao khác nhau của khu vực khoảng không gian này. Tóm lại ngoài yếu tổ thẩm mỹ, mục đích chủ yếu của việc sử dụng façade mặt đứng hai lớp là cải thiện môi trường bên trong toà nhà và giảm bớt tiêu thụ năng lượng.

(theo WAGNER-DOAN)